Bài soạn lớp 10: Cáo bệnh, bảo mọi người

Hướng dẫn soạn bài: Cáo bệnh, bảo mọi người - Trang 140 sgk ngữ văn 10 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được trả lời rành mạch và dễ hiểu. Với cách soạn sau, các em học sinh sẽ nắm tốt nội dung bài học. Ngoài ra, nếu có câu hỏi nào, các em comment phía dưới để thầy cô giải đáp.


Tìm hiểu chung tác phẩm

Tác giả:

  • Tên thật là Lý Trường (1052 - 1096)
  • Người làng An Cách
  • Thuở nhỏ được tuyển vào cung và được vua Lý Nhân Tông cùng thái hậu rất trọng vọng
  • 25 tuổi xuất gia và trở thành một thiền sư được mến trọng
  • Khi ông mất được ban tặng tên thụy là Mãn Giác

Tác phẩm:

  • Hoàn cảnh sáng tác: Cuối năm 1096, Sư cáo bệnh và làm bài kệ này để báo cho mọi người biết.
  • Thể loại: Đây vốn là bài Kệ (thể văn Phật giáo) chức năng chủ yếu là truyền bá, giải thích đạo Phật
    • Kệ được viết bằng văn vần, bài Kệ ý tứ sâu xa, thường dùng cách nói ẩn dụ kín đáo, nhiều bài kệ có giá trị văn chương như các bài thơ
  • Bố cục: 2 phần
    • 2 câu cuối: quan niệm nhân sinh cao đẹp
    • 4 câu đầu: quy luật cuộc sống

Câu 1. Hai câu thơ đầu nói lên quy luật nào của tự nhiên? (Quy luật vận động biến đổi?...

Hai câu thơ đầu nói lên quy luật nào của tự nhiên? (Quy luật vận động biến đổi? Quy luật tuần hoàn? Quy luật sinh trưởng?). Nếu đảo câu thơ 2 lên vị trí câu thơ đầu thì ý thơ khác nhau như thế nào? Đảo như thế, trong những quy luật trên, quy luật nào giữ nguyên, quy luật nào bị ảnh hưởng. Vì sao?

Trả lời:

Hai câu thơ này nói lên quy luật hóa sinh của tự nhiên. Hoa cũng như người, không thể mãi đứng yên, bất biến. Tất cả đều vận động theo một quy luật biến đổi tuần hoàn, có sinh rồi có diệt. Đó là lẽ tự nhiên của mọi vật trong trời đất. Nếu ta đảo câu thơ 2 lên vị trí câu thơ đầu thì ý thơ sẽ thay đổi. Ở đây tác giả nhìn nhận tự nhiên theo quy luật: xuân qua rồi thì xuân sẽ tới, hoa rụng rồi sẽ có hoa tươi. Một cái nhìn hết sức lạc quan. Theo cách nhìn này thì vòng đời cứ thế mở ra, cái sau tiếp nối cái trước. Bánh xe luân hồi không ngừng chuyển động. Vong sau tươi đẹp hơn vòng trước. Nếu đảo câu 2 lên vị trí của câu đầu thì quy luật tự nhiên ở đây được nhìn nhận theo cách nhìn hoàn toàn khác: xuân tới rồi xuân qua, hoa tươi rồi hoa rụng. Cách nhìn này đi theo chiều hướng khác, một cái nhìn bi quan. Vòng luân hồi như bị khép lại.

Câu 2: Câu 3 và 4 nói lên quy luật gì trong cuộc sống con người? Anh (Chị) cảm nhận như thế nào...

Câu 3 và 4 nói lên quy luật gì trong cuộc sống con người? Anh (Chị) cảm nhận như thế nào về tâm trạng tác giả qua hai câu thơ này? (Thản nhiên? Nuối tiếc? Xót xa?) Nguyên nhân dẫn đến tâm trạng này?

Trả lời:

Câu ba và câu bốn nói lên quy luật của đời người - quy luật: sinh, lão, bệnh, tử theo quan niệm của đạo Phật. Con người cùng với thời gian trôi thì tuổi trẻ sẽ qua đi và tuổi già ắt đến. Tuổi già đến trên đầu mà thời gian thì không ngừng trôi chảy (trước mắt việc đi mãi). Vì thế cuộc đời con người trong khoảnh khắc có khác gì ảo ảnh. Hai câu thơ có chút bâng khuâng nuối tiếc vì thời gian của vũ trụ thì vô thuỷ vô chung còn thời gian của đời người thì ngắn ngủi.

Câu 3: Hai câu thơ cuối có phải là thơ tả thiên nhiên không? Câu thơ đầu khẳng định...

Hai câu thơ cuối có phải là thơ tả thiên nhiên không? Câu thơ đầu khẳng định "Xuân qua, trăm hoa rụng" vậy mà hai câu cuối lại nói xuân tàn vẫn nở cành mai. Như thế có mâu thuẫn không? Vì sao? Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng cành mai trong câu thơ cuối?

Trả lời:

Trong hai câu  thơ cuối, tác giả mượn việc miêu tả thiên nhiên mà nói đến một quan niệm triết lí trong Phật giáo; khi con người đã giác ngộ đạo (hiểu được chân lí và quy luật) thì có sức mạnh lớn lao, vượt lên trên cả lẽ sinh diệt thông thường. Thiền sư đắc đạo trở về với bản thể vĩnh hằng, không sinh, không diệt như  nhành mai kia cứ tươi bất kể xuân tàn. Theo cách giải  thích này nội dung ý tức của hai câu thơ cuối không hề có chút gì mâu thuẫn với nhau.

Câu 4: Qua bài kệ, anh (chị) hãy làm sáng tỏ lòng yêu đời và cái nhìn lạc quan của tác giả

(Cần xâu chuỗi phần trả lời ở những câu hỏi trên, chú ý:

  • Cách mở đầu và kết thúc bài thơ
  • Những từ ngữ làm nên tính chất khẳng định ở hai câu thơ kết
  • Tâm trạng tác giả trong hai câu thơ 3, 4 và trong hai câu thơ kết có gì khác nhau?

Trả lời:

Bài thơ toát lên niềm yêu đời, lạc quan và tràn đầy niềm tin vào cuộc sống của mãn giác thiền sư. Từ sự hiểu được những quy luật hóa sinh đến việc chấp nhận nó, thuận theo tự nhiên và sống lạc quan an nhiên và tự tại. Hai câu cuối khái quát nên nội dung của toàn bài. Những từ ngữ mạnh, mang nặng tính khẳng định như “chớ bảo”, “một cành mai” khiến thời thơ cô đọng. Từ việc nhìn thấy cái lẽ sinh – tử của đời người, cất lên những tiếng thở dài cho đến cái nhìn phóng khoáng, thông tuệ, tràn ngập ánh sáng của một ngày mới chứng tỏ ở Mãn Giác thiền sư đã có sự giác ngộ sâu sắc. Cành mai cuối bài hiện ra như sự tiếp nối cho vòng xoay của bánh xe luân hồi: điểm khởi đầu của bài thơ là “xuân tàn” và kết thúc là một hình ảnh đầy sức gợi – “cành mai” hiện ra thể hiện một lối tư duy, một cái nhìn mang đậm tinh thần lạc quan của tác giả.

Bài soạn văn 10

@2018 ban quyền thuộc về soanvan.net