Bài soạn siêu ngắn: Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa - Ngữ văn lớp 10

Bài soạn siêu ngắn: Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa - trang 82 sgk ngữ văn lớp 10 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được soạn ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn đầy đủ ý.


Nội dung bài gồm:

Tìm hiểu tác phẩm

  • Ca dao là thơ ca dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc. Ca dao là những bài hát dân gian, lời thơ và làn điệu của ca dao gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ và vì vậy ca dao còn có nghĩa là một thể thơ dân gian.
  • Ca dao thường ngắn gọn, nhiều hình ảnh, ẩn dụ, biểu tượng truyền thống, hình thức đối lập, đối đáp mang đậm màu sắc thái dân gian.
  • Nỗi niềm chua xót, đắng cay và tình cảm yêu thương chung thủy của người bình dân trong xã hội, được bộc lộ chân tình và sâu sắc qua chùm ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa. Nghệ thuật dân gian đã tô đậm thêm vẻ đẹp tâm hồn của người lao động trong các câu ca.

Câu 1: Bài 1, 2 a. Hai lời than thân mở đầu bằng Thân em như.. với âm điệu xót xa... a. Hai lời than thân mở đầu bằng Thân em như.. với âm điệu xót xa ngậm ngùi. Người than thân là ai và thân phận họ như thế nào?/ b. Thân phận có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại mang sắc thái riêng được diễn tả bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau, Anh/chị cảm nhận được gì qua mỗi hình ảnh?

Trả lời:

a. Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ "thân em như…." kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xót xa. Đây là lời của cô gái đang trong độ tuổi xuân thì, khao khát hạnh phúc nhưng không tự quyết định được cuộc đời của mình => số phận chung của người phụ nữ phong kiến
b.

  • Bài ca dao 1 mở đầu bằng “Thân em như…’’ với âm điệu xót xa, bùi ngụi là lời than thân của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. “tấm lụa đào’’ – hình ảnh ẩn dụ cho vẻ đẹp và phơi phới tuổi xuân – nhưng họ mang thân phận phụ thuộc, không thể tự quyết định hạnh phúc của mình => họ xót xa cho thân phận, và lo lắng cho tương lai của mình (biết vào tay ai)
  • Bài ca dao 2 là sự tự ý thức rõ hơn, và ở đây được nhấn mạnh đến giá trị thực của người con gái. "Ruột trong thì trắng / vỏ ngoài thì đen" chính là những phẩm chất, tính nết tốt đẹp trong người con gái. Bài ca là lời mời mọc da diết của cô gái thể hiện khát khao mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình.

Câu 2: Bài 3 a. Cách mở đầu bài ca dao này có gì khác với hai bài trên? Anh/chị hiểu từ “ai” trong câu” ai làm chua xót lòng này, khế ơi” như thế nào? b. Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn bền vững, thủy chung. Điều đó được nói lên bằng một hệ thống so sánh, ẩn dụ như thế nào? Vì sao các tác giả lại lấy các hình ảnh của thiên nhiên, vũ trụ để khẳng định tình nghĩa con người?

Trả lời:

a. Bài ca dao không mở đầu bằng: Trèo lên cây khế nửa ngày... (dùng lối đưa đẩy, gợi cảm hứng từ một sự việc bên ngoài). Lối mở đầu này cũng đã thành môtíp trong ca dao: Trèo lên cây bưởi hái hoa..., Trèo lèn cây gạo cao cao... thường được dùng trong trường hợp người con trai thất tình, lỡ duyên.
Từ "Ai" ở đây là đại từ, có thể là cha mẹ hai bên ngăn cản, là những hủ tục phong kiến,hay có khi là chính người tình… Câu ca như lời trách móc, vì lí do nào đó khiến tình duyên đôi lứa lỡ dở trở thành nỗi chua xót dành cho người ở lại
Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như:

Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng.
Ai đem con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng bay cao

b. Câu hỏi tu từ bật ra như lời ai oán, xót xa cho số phận. Tình duyên không thành nhưng tình nghĩa của người con trai vẫn trước sau không thay đổi. Tình nghĩa đó được ví như mặt trời, mặt trăng, các vì sao từ xưa đến nay vẫn thế.

  • Nhân vật trữ tình đã lấy hình ảnh thiên nhiên, vũ trũ là cái to lớn, vĩnh hằng để nói lên tình nghĩa con người bền vững, thủy chung.
  • Dẫu không đến được với nhau, tình yêu của chàng trai dành cho cô gái vẫn vẹn tròn và một lòng chờ đơi: “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời’’ => Sao Vượt chờ trăng nhưng trăng và sao Vượt chẳng bao giờ gần nhau được => cũng như tình cảm chàng trai: mỏi mòn chờ đợi, cô đơn vì ngóng trông => một tình cảm cũng thật cao đẹp.  Câu thơ như lời nhắn nhủ với người mình yêu, dù khó khăn, nhiều trở ngại nhưng tình cảm vẫn son sắt thủy chung.

Câu 3: Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung – nhất là thương nhớ người yêu. Bài ca dao đã diễn tả một cách thật cụ thể, gợi cảm. Đó là nhờ thủ pháp gì và thủ pháp đó đã tạo được hiệu quả nghệ thuật như thế nào?

Trả lời:

  • Bài ca dao này đã diễn tả tình cảm thương nhớ của lứa đôi yêu nhau một cách tinh tế, gợi cảm thông qua các biểu tượng "khăn", "đèn", "mắt". Ở đây, "khăn", "đèn" được nhân hóa, còn "mắt" là phép hoán dụ để nói lên nhân vật trữ tình.
  • Cái khăn là vật trao duyên, vật kỉ niệm gợi nhớ người yêu, lại luôn luôn quấn quýt bên mình người con gái. Chiếc khăn chính là hình ảnh người con gái.
  •  Sáu câu thơ được cấu trúc theo lối vắt dòng láy lại 6 lần từ “khăn” ở vị trí đầu câu và láy lại 3 lần “khăn thương nhớ ai” như một điệp khúc, cùng với cách gieo vần (cả vần chân và vần lưng) tạo nên những láy âm trong thể văn bốn (ai và ắt) đã bộc lộ rõ nỗi niềm thương nhớ của cô gái.
  • Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt... nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái.
  • Hình ảnh ngọn đèn - là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian => ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu.
  • Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn "mắt thương nhớ ai?" => Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa.
  • Những câu hỏi không có câu trả lời liên tiếp cất lên => trong lòng ngổn ngang trăm mối tơ vò, bứt rứt không yên bởi vì thương nhớ người yêu.

Câu 4: Chiếc cầu – dải yếm là một hình ảnh nghệ thuật chỉ có trong ca dao để nói lên ước muốn mãnh liệt của nguời bình dân trong tình yêu. Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp độc đáo của hình ảnh nghệ thuật này.

Trả lời:

  • Uớc mong của đôi lứa được ở gần nhau là ước mơ chính đáng. Ca dao đã thể hiện ước mong đó một cách sâu sắc, duyên dáng.
  • Chiếc cầu - dải yếm đích thực là cái cầu tình yêu trong ca dao do người con gái bắc cho người yêu mình trong sự ràng buộc hà khắc của lễ giáo phong kiến xưa. Nó táo bạo, mãnh liệt nhưng đằm thắm, đầy nữ tính bởi nó là cái dải yếm, cái vật cụ thể mềm mại luôn luôn quấn quýt bên thân hình người con gái: nó chính là người con gái!
  • Trong nhiều câu ca dao, đôi lứa cũng thể hiện mong muốn gắn bó một cách tế nhị, sâu sắc như thế.  Đó là những cây cầu tình yêu độc đáo và đẹp nhất, và chỉ có tư duy nghệ thuật dân gian thì mới sáng tạo ra được một cái cầu như thế.

Câu 5: Vì sao khi nói đến tình nghĩa của con người, ca dao lại dùng hình ảnh muối – gừng. Phân tích ý nghĩa biểu tương và giá trị biểu cảm của hình ảnh này.

Trả lời:

  • . Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà => biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống - tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.
  • Câu bát được cải biến thành 13 tiếng, nhịp thơ kéo dài càng làm tăng tính chất khẳng định về sự thủy chung son sắt của tình nghĩa vợ chồng và cũng là một sự luyến láy tạo ra tính nhạc cho câu.
  • "Ba vạn sáu nghìn ngày" là một trăm năm => chỉ một đời người => chẳng bao giờ xa cách, chẳng có gì chia lìa tình nghĩa vợ chồng.
  • "gừng","muối" còn là những khó khăn trong cuộc sống vợ chồng cùng trải qua => nhấn mạnh tình nghĩa vợ chồng.

Câu 6: Qua chùm ca dao đã học, anh/chị thấy những biện pháp nghệ thuật nào thường được dùng trong ca dao? Những biện pháp đó co nét gì khác so với nghệ thuật thơ của văn học viết.

Trả lời:

Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng:

  •  Sự lặp lại mô thức mở đầu bài ca: Thân em như..., AI làm, Chiều chiều…
  • Những hình ảnh trở thành biểu tượng trong ca dao: Cái cầu, bến nước, con thuyền, tấm khăn, ngọn đền, gừng cay - muối mặn,...
  • Hình ảnh so sánh,ẩn dụ, nhân hóa lấy từ trong cuộc sống đời thường: tấm lụa đào..., củ ấu gai...
  • Thời gian và không gian nghệ thuật có sức gợi cảm,\
  • Thể thơ lục bát; lục bát biến thể; thể vãn bốn; song thất lục bát (biến thể).Các mô típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở, về tình yêu bị ngăn cách...
  • Thể thơ: lục bát là thể thơ phổ biến nhất. Ngoài ra, còn có lục bát biến thể, vãn bối (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể).

[Luyện tập] Câu 1: Tìm năm bài ca dao mở đầu bằng “Thân em như…’’ và phân biệt sắc thái ý nghĩa của chúng.

Trả lời:

1. Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa.

2. “Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày’’

3.  “Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân’’

4. “Thân em như cá trong lờ
 Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu’’

5. Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu
 
6.  "Thân em như quả xoài trên cây
Gió đông gió tây nó nam gió bắc
Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành
Một mai rụng xuống biết vào tay ai?’’

7. “Thân em như hạt cau khô
Kẻ thanh tham mỏng, người khô tham dày’’.

  • Ba câu ca dao đầu là lời than về thân phận người con gái trong xã hội cũ, họ không được quyền tự do chọn lựa tình yêu, hạnh phúc cho mình. Tất cả là dựa vào số phận, may mắn hay khổ đau.
  • Câu 4,5 nói về số phận nhỏ bé, tội nghiệp của người con gái trước những sóng gió, phong ba của cuộc đời.
  • Câu 6,7 là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng.

[Luyện tập] Câu 2: Tìm thêm những bài ca dao nói về nỗi nhớ người yêu, về cái khăn để thấy bài Khăn thương nhớ ai vừa nằm trong hệ thống của các bài ca dao đó lại vừa có vị trí đặc biệt, độc đáo riêng. Từ đó, lí giải ý nghĩa câu thơ của Nguyễn khoa Điểm: "Đát Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn tay trong nỗi nhớ thầm" (trích trường ca Mặt đường khát vọng)

Trả lời:

Những bài ca dao nói về nỗi nhớ người yêu:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than. 
 Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?
 Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?
 Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

Bài ca dao về cái khăn:

Gửi khăn, gửi áo, gửi lời
Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa. 
Nhớ khi khăn mở trầu trao
Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

Bài ca dao Khăn thương nhớ ai vừa nằm trong hệ thống các bài ca dao nói trên, lại vừa có một vị trí riêng: nó cụ thể, sinh động hơn và cũng tổng hợp, trọn vẹn hơn.

"Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (Nguyễn Khoa Điềm) => Câu thơ vừa lấy ý tứ từ sự thương nhớ của ca dao vừa lại khái quát lên một cấp độ cao hơn - câu thơ chính là một nét đẹp giản dị mà tinh tế sâu sắc của tâm hồn người Việt.

Bài soạn văn lớp 10 siêu ngắn

@2018 ban quyền thuộc về soanvan.net