Bài soạn siêu ngắn: Chạy giặc - Ngữ văn lớp 11

Bài soạn siêu ngắn: Chạy giặc - trang 49 sgk ngữ văn lớp 11 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được soạn ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn đầy đủ ý.


Tìm hiểu chung tác phẩm

Tác giả:

  • Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888)
  • Là nhà thơ giàu lòng yêu nước thương dân.
  • Ông được coi là ngọn cờ đầu của văn học yêu nước thế kỉ XIX.

Tác phẩm:

  • Xuất xứ bài thơ: Tương truyền bài thơ được tác giả viết sau khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định (17/2/1859) khi tác giả và nhân dân chạy giặc.
  • Thể thơ: Thơ Nôm – Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật.
  • Bố cục bài thơ: (Theo bố cục Đề-Thực-Luận-Kết)
    • 2 câu đề (1,2): Tình thế hiểm nghèo của đất nước khi thực dân Pháp xâm lược.
    • 2 câu thực (3,4): Hoàn cảnh khốn khổ của nhân dân ta.
    • 2 câu luận (5,6): Tội ác của giặc xâm lược.
    • 2 câu kết (7,8): Thái độ của tác giả.
  • Nội dung: Chạy giặc phản ánh hiện thực đau thương của nhân dân Nam Bộ trong những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược. Đồng thời nói lên nỗi đau và lòng căm hận của tác giả trước tội ác của giặc; mong ước có một bậc anh hùng ra tay dẹp loạn. Qua đó tác giả cũng thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc.Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả rất sống động cảnh chạy giặc để qua đó tố cáo tội ác của bọn cướp nước hại dân.

Câu 1: Cảnh đất nước và nhân dân khi giặc Pháp đến xâm lược được miêu tả như nào? Phân tích nét đặc sắc trong ngòi bút tả thực của tác giả.

Trả lời:

Cảnh đất nước và nhân dân khi giặc Pháp đến xâm lược được miêu tả:

  • Cảnh chợ hoang tàn, tan nát
  • " Một bàn cờ thế phút sa tay" => tình cảnh của đất nước ta hiện giờ: rất khó khăn, nguy hiểm, chỉ cần đi sai một bước hậu quả khôn lường
  • Nhân dân ta hoảng loạn, tan tác, nơi ở xác xơ tan hoang
  • Sự bị động của nhân dân, của triều đình phong kiến trước sự xâm lược của kẻ thù đã dẫn đến hậu quả là mất nước.
  • Tác giả đã thể hiện được sự đồng cảm và xót thương của mình và tấm lòng yêu nước thương dân, những hình ảnh đau thương đậm chất hiện thực đã tố cáo tội ác tày trời.

Nét đặc sắc trong nghệ thuật tả thực: 

  • Tác giả đã sử dụng ngòi bút tả thực để vẽ lên bức tranh hiện thực xã hội khi giặc Pháp xâm lược, thể hiện tình cảnh tan tác, bi thương của nhân dân khi ấy. Kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ, tác giả nhằm nhấn mạnh nỗi khốn khổ của người dân trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, làm tăng sức mạnh tố cáo của câu gợi và gợi nỗi xót xa thương cảm.

Câu 2: Trong hoàn cảnh đó, tâm trạng, tình cảm của tác giả như thế nào?

Trả lời:

Bằng phương pháp sử dụng phép đối và đảo ngữ được vận dụng sáng tạo. Câu thơ thứ 5 và 6 đã vẽ chân thực và sống động bức tranh một vùng địa lí bao la trù phú phút chốc biến thành đống tro tàn. Tiền của, tài sản của nhân dân ta bị giặc cướp sạch "tan bọt nước". Nhà cửa, xóm làng, quê hương của nhà thơ bị đốt cháy, lửa khói nghi ngút "nhuốm màu mây" . Hai hình ảnh so sánh "tan bọt nước" và "nhuốm màu mây" là cách nói cụ thể của nhân gian đặc tả cảnh điêu tàn do giặc Pháp gây ra.

=> Tác giả lên án tội ác càn quét, đố nhà, giết người, cướp của tàn phá quê hương.

Câu 3: Phân tích thái độ của nhà thơ trong hai câu kết.

Trả lời:

"Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng

Nỡ để dân đen mắc họa này"

“trang dẹp loạn”: là người anh hùng hảo hán.

“Hỏi”, “rày đâu vắng”: sự chất vấn một cách mỉa mai, chua chát => nỗi căm phẫn, xót xa trước triều đình thối nát, không chăm lo cho nhân dân. => xuất phát từ lòng yêu nước thương dân của tác giả

Giọng điệu của tác giả thật đau xót có chút trách móc, nhưng đây là nơi kêu gọi to lớn quần chúng trong cả nước đoàn kết một lòng.

Câu hỏi ở cuối bài thơ đã làm cho người đọc day dứt và có nhiều cảm xúc, vừa xót thương và cũng mang một âm hưởng hào hùng.

Như vậy, hai câu cuối như 1 lời kêu cứu trước cảnh giặc ngoại xâm lăng, chứa đựng bao nhiêu tình yêu thương của Nguyễn Đình Chiểu đối với nhân dân đang quằn quại trong bom đạn giặc.

@2018 ban quyền thuộc về soanvan.net